Trong bối cảnh hệ thống pháp luật về tài chính công ngày càng được hoàn thiện theo hướng minh bạch, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn quản lý nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 362/2025/NĐ-CP nhằm hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Luật Phí và lệ phí. Nghị định này không chỉ kế thừa các quy định còn phù hợp trước đây mà còn có nhiều điểm điều chỉnh, bổ sung quan trọng liên quan đến đối tượng chịu phí, lệ phí; thẩm quyền ban hành; nguyên tắc quản lý, thu – nộp và sử dụng phí, lệ phí trong các lĩnh vực khác nhau. Việc kịp thời nắm bắt và hiểu rõ nội dung của Nghị định 362/2025/NĐ-CP là cơ sở cần thiết để các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân thực hiện đúng quy định pháp luật, hạn chế rủi ro pháp lý và bảo đảm tuân thủ trong hoạt động tài chính – kế toán.

Hướng dẫn mới về việc nộp phí, lệ phí và quyết toán phí theo Nghị định 362/2025/NĐ-CP
Nghị định số 362/2025/NĐ-CP quy định chi tiết về việc khai, thu, nộp phí, lệ phí và quyết toán phí, chính thức áp dụng từ ngày 01/01/2026. Theo đó, một số nội dung trọng tâm được hướng dẫn như sau:
1. Nghĩa vụ khai và nộp phí, lệ phí của người nộp
Người nộp phí, lệ phí thực hiện việc khai (nếu có) và nộp phí, lệ phí theo tháng, quý, năm hoặc theo từng lần phát sinh. Tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm của từng khoản phí, lệ phí và điều kiện thực tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Phí và lệ phí sẽ quyết định cụ thể hình thức nộp cũng như kỳ khai, kỳ nộp cho phù hợp.
Việc nộp tiền phí, lệ phí vào ngân sách nhà nước được thực hiện theo một trong các hình thức sau:
-
Nộp trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước.
-
Nộp cho tổ chức thu phí, lệ phí bằng tiền mặt hoặc không dùng tiền mặt vào tài khoản chuyên thu phí, lệ phí mở tại tổ chức tín dụng, hoặc vào tài khoản phí chờ nộp ngân sách nhà nước mở tại Kho bạc Nhà nước.
-
Nộp cho cơ quan, tổ chức khác với tổ chức thu phí, lệ phí trong trường hợp thực hiện thủ tục hành chính hoặc sử dụng dịch vụ công trực tuyến theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo quy định của Chính phủ.
2. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức tiếp nhận phí, lệ phí
Đối với cơ quan, tổ chức nhận tiền phí, lệ phí nhưng không trực tiếp là tổ chức thu phí theo hình thức nêu trên, toàn bộ số tiền đã thu phải được chuyển vào tài khoản thu ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước hoặc tài khoản chuyên thu phí, lệ phí (hoặc tài khoản phí chờ nộp ngân sách nhà nước) của tổ chức thu phí trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ thời điểm nhận tiền.
3. Trách nhiệm khai, nộp và quyết toán của tổ chức thu phí, lệ phí
Trừ các trường hợp đặc thù được quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định 362/2025/NĐ-CP, tổ chức thu phí, lệ phí có trách nhiệm thực hiện khai, nộp và quyết toán phí thu được theo quy định:
-
Đối với tổ chức thu phí là cơ quan nhà nước và tổ chức thu lệ phí theo quy định tại Điều 2 Nghị định 362/2025/NĐ-CP, việc khai và nộp phí, lệ phí vào ngân sách nhà nước được thực hiện theo pháp luật về quản lý thuế. Riêng tổ chức thu phí hải quan, lệ phí đối với hàng hóa, phương tiện vận tải quá cảnh không phải thực hiện khai phí, lệ phí mà thực hiện nộp theo quy định riêng.
-
Đối với tổ chức thu phí không phải là cơ quan nhà nước hoặc thuộc đối tượng quy định riêng, toàn bộ số tiền phí thu được của tháng trước (bao gồm cả tiền lãi phát sinh) phải được nộp vào tài khoản phí chờ nộp ngân sách nhà nước chậm nhất vào ngày 05 hằng tháng. Đồng thời, tổ chức thu phí thực hiện khai số phí đã thu theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và hoàn tất việc nộp số tiền còn phải nộp vào ngân sách nhà nước chậm nhất vào ngày 20 hằng tháng.
Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quy định riêng về việc chuyển tiền phí đã thu theo định kỳ hằng ngày hoặc hằng tuần thì thực hiện theo quy định đó.
Hằng năm, tổ chức thu phí có trách nhiệm thực hiện quyết toán số tiền phí thu được theo đúng quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Chi tiết cụ thể được quy định tại Nghị định số 362/2025/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026.

NGHỊ ĐỊNH: QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC, HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT PHÍ VÀ LỆ PHÍ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Chính phủ trong việc quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, bảo đảm tính thống nhất và hiệu lực trong tổ chức thực hiện pháp luật;
Căn cứ Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13, là cơ sở pháp lý điều chỉnh việc ban hành, quản lý, thu, nộp và sử dụng các khoản phí, lệ phí nhằm bảo đảm công khai, minh bạch, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15, quy định nguyên tắc quản lý, phân cấp, điều hành ngân sách, làm nền tảng cho việc quản lý nguồn thu từ phí, lệ phí theo đúng quy định của pháp luật;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, bảo đảm việc xây dựng và thực hiện chính sách phí, lệ phí gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường, phát triển bền vững và sử dụng hiệu quả tài nguyên;
Căn cứ Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân;
Trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Phí và lệ phí, nhằm bảo đảm việc áp dụng thống nhất, hiệu quả trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phát triển kinh tế – xã hội.
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định chi tiết về việc khai, thu và nộp phí, lệ phí; việc quyết toán phí; công tác quản lý, sử dụng phí; đồng thời xác định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và tổ chức có liên quan trong hoạt động thu, nộp phí, lệ phí cũng như quản lý, sử dụng các khoản phí theo quy định của pháp luật.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Nghị định này được áp dụng đối với các đối tượng sau đây:
– Người nộp phí, lệ phí, bao gồm tổ chức và cá nhân được cung cấp dịch vụ công hoặc được phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước theo quy định của Luật Phí và lệ phí.
– Các tổ chức thu phí, lệ phí theo quy định của Luật Phí và lệ phí, bao gồm:
- Cơ quan nhà nước và cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.
- Đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
- Các tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, phục vụ hoạt động quản lý nhà nước và được phép thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
– Các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến việc khai, thu, nộp phí, lệ phí; quyết toán phí; cũng như quản lý và sử dụng phí theo quy định của Nghị định này.
Điều 3. Quy định về khai, thu, nộp phí, lệ phí và quyết toán phí
-
Trách nhiệm của người nộp phí, lệ phí
Người nộp phí, lệ phí có trách nhiệm thực hiện việc khai (nếu có) và nộp phí, lệ phí theo kỳ tháng, quý, năm hoặc theo từng lần phát sinh. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của từng khoản phí, lệ phí và điều kiện thực tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Phí và lệ phí sẽ quy định cụ thể hình thức nộp, kỳ khai và thời hạn nộp phí, lệ phí cho phù hợp.
Việc nộp phí, lệ phí vào ngân sách nhà nước được thực hiện theo một trong các phương thức sau:
a) Nộp trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước.
b) Nộp cho tổ chức thu phí, lệ phí bằng tiền mặt hoặc bằng hình thức không dùng tiền mặt vào tài khoản chuyên thu phí, lệ phí mở tại tổ chức tín dụng, hoặc vào tài khoản phí chờ nộp ngân sách nhà nước của tổ chức thu phí mở tại Kho bạc Nhà nước.
c) Nộp cho cơ quan, tổ chức không trực tiếp là tổ chức thu phí, lệ phí trong trường hợp thực hiện thủ tục hành chính hoặc sử dụng dịch vụ công trực tuyến theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo quy định của Chính phủ.
-
Trách nhiệm chuyển nộp của cơ quan, tổ chức tiếp nhận phí, lệ phí
Cơ quan, tổ chức tiếp nhận tiền phí, lệ phí theo hình thức quy định tại điểm c khoản 1 Điều này có trách nhiệm chuyển toàn bộ số tiền đã thu được vào tài khoản thu ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước, hoặc vào tài khoản chuyên thu phí, lệ phí (hoặc tài khoản phí chờ nộp ngân sách nhà nước) của tổ chức thu phí trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ thời điểm nhận tiền.
-
Khai, nộp và quyết toán của tổ chức thu phí, lệ phí
Trừ các trường hợp đặc thù quy định tại khoản 4 Điều này, tổ chức thu phí, lệ phí thực hiện việc khai, nộp và quyết toán số phí thu được theo quy định sau:
a) Đối với tổ chức thu phí là cơ quan nhà nước quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 2 Nghị định này, cũng như các tổ chức thu lệ phí theo khoản 2 Điều 2 Nghị định này, việc khai và nộp phí, lệ phí vào ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Riêng đối với tổ chức thu phí hải quan, lệ phí đối với hàng hóa và phương tiện vận tải quá cảnh, không thực hiện khai phí, lệ phí mà thực hiện nộp theo quy định riêng.
b) Đối với tổ chức thu phí quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 Nghị định này và tổ chức thu phí không phải là cơ quan nhà nước theo điểm c khoản 2 Điều 2, toàn bộ số tiền phí thu được của tháng trước, bao gồm cả tiền lãi phát sinh, phải được nộp vào tài khoản phí chờ nộp ngân sách nhà nước chậm nhất vào ngày 05 hằng tháng.
Đồng thời, tổ chức thu phí có trách nhiệm khai số phí đã thu của tháng trước theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và hoàn thành việc nộp số tiền phí còn phải nộp từ tài khoản phí chờ nộp ngân sách nhà nước vào ngân sách nhà nước chậm nhất vào ngày 20 hằng tháng.
Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo khoản 2 Điều 4 Luật Phí và lệ phí có quy định riêng về thời hạn chuyển nộp phí theo định kỳ hằng ngày hoặc hằng tuần thì thực hiện theo quy định đó.
c) Hằng năm, tổ chức thu phí thực hiện quyết toán số tiền phí thu được theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
-
Phí, lệ phí thu tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
Đối với phí, lệ phí do cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thu, việc khai và nộp được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
-
Lập và cấp chứng từ thu phí, lệ phí
Tổ chức thu phí, lệ phí có trách nhiệm lập và cấp chứng từ thu phí, lệ phí cho người nộp theo quy định của Chính phủ về hóa đơn, chứng từ và thủ tục hành chính trong lĩnh vực Kho bạc Nhà nước.
-
Xử lý tiền chậm nộp và các vấn đề liên quan
Tổ chức thu phí, lệ phí thực hiện việc tính tiền chậm nộp, xử lý các khoản phí, lệ phí nộp thừa và kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
-
Đồng tiền khai, thu và nộp phí, lệ phí
Việc khai, thu và nộp phí, lệ phí được thực hiện theo đồng tiền quy định tại pháp luật về quản lý thuế và quy định cụ thể đối với từng loại phí, lệ phí, trong đó:
a) Phí, lệ phí thu tại Việt Nam được thực hiện bằng đồng Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật cho phép thu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. Trường hợp thu bằng ngoại tệ, tổ chức thu có thể thu bằng ngoại tệ hoặc bằng đồng Việt Nam trên cơ sở quy đổi theo tỷ giá áp dụng tại thời điểm nộp, cụ thể:
-
Nộp tại ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín dụng khác: áp dụng tỷ giá mua vào của ngân hàng nơi người nộp mở tài khoản.
-
Nộp qua Kho bạc Nhà nước: áp dụng tỷ giá hạch toán ngoại tệ do Bộ Tài chính công bố tại thời điểm nộp.
-
Nộp trực tiếp bằng tiền mặt hoặc theo hình thức khác cho tổ chức thu phí, lệ phí: áp dụng tỷ giá mua vào theo hình thức chuyển khoản của Hội sở chính Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam tại thời điểm nộp hoặc tại thời điểm cuối ngày làm việc liền kề trước ngày nghỉ, ngày lễ.
b) Phí, lệ phí thu tại nước ngoài được thu bằng đồng tiền của nước sở tại hoặc bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi theo quy định của pháp luật.
Điều 4. Nguyên tắc quản lý và sử dụng phí
-
Phí nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước
Toàn bộ số tiền phí phát sinh từ hoạt động cung cấp dịch vụ do tổ chức thu phí là cơ quan nhà nước theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 2 Nghị định này thực hiện phải được nộp đầy đủ vào ngân sách nhà nước.
Trường hợp giữa quy định của Nghị định này và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có sự khác nhau về quản lý và sử dụng phí thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.
-
Phí được để lại một phần hoặc toàn bộ đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Đối với phí thu từ các hoạt động dịch vụ do tổ chức thu phí là đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 Nghị định này thực hiện, tổ chức thu phí được để lại một phần hoặc toàn bộ số tiền phí thu được để bù đắp chi phí cho hoạt động cung cấp dịch vụ và hoạt động thu phí theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này; phần phí còn lại phải nộp vào ngân sách nhà nước.
-
Phí được để lại đối với tổ chức không phải là cơ quan nhà nước
Phí thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ do tổ chức thu phí không phải là cơ quan nhà nước theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 2 Nghị định này thực hiện được để lại một phần hoặc toàn bộ nhằm trang trải chi phí cho hoạt động cung cấp dịch vụ và hoạt động thu phí theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này; phần còn lại nộp ngân sách nhà nước.
Số tiền phí được để lại trong trường hợp này được xác định là doanh thu của tổ chức thu phí theo quy định của pháp luật.
Điều 5. Xác định tỷ lệ để lại và quản lý, sử dụng phí
-
Xác định số tiền và tỷ lệ phí được để lại
Số tiền phí được để lại cho tổ chức thu phí trong các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 4 Nghị định này được xác định trên cơ sở tỷ lệ để lại, cụ thể như sau:
a) Số tiền phí được để lại được xác định theo công thức:
Số tiền phí được để lại = Số tiền phí thực thu × Tỷ lệ để lại.
b) Tỷ lệ để lại được xác định theo công thức:
Tỷ lệ để lại (%) = (Dự toán chi phí cả năm cho hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí) / (Dự toán phí thu được cả năm) × 100.
Trong đó:
-
Dự toán chi phí cả năm được xây dựng trên cơ sở các nội dung chi quy định tại khoản 2 Điều này, đồng thời phù hợp với chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi theo quy định của pháp luật.
-
Dự toán phí thu được cả năm được xác định căn cứ vào mức phí dự kiến và số lượng dịch vụ dự kiến cung cấp trong năm.
Trường hợp điều chỉnh tỷ lệ để lại, ngoài căn cứ vào dự toán thu, chi hoặc số liệu thu, chi thực tế của tổ chức thu phí, còn phải xem xét số liệu thu, chi của ba năm liền kề trước đó.
Tỷ lệ để lại tối đa không vượt quá 100% số tiền phí thực thu.
c) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Phí và lệ phí quyết định tỷ lệ để lại đối với từng tổ chức thu phí. Đối với các khoản phí có tính chất tương đồng, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét quyết định một tỷ lệ để lại chung để áp dụng thống nhất.
Trong trường hợp có sự thay đổi chính sách của Nhà nước; số tiền phí được để lại không bảo đảm bù đắp chi phí cho hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí; hoặc phát sinh số tiền để lại tồn dư chưa sử dụng chuyển từ năm trước sang năm sau trong nhiều năm, cơ quan có thẩm quyền xem xét điều chỉnh tỷ lệ để lại cho phù hợp với thực tế.
-
Nội dung chi từ nguồn phí được để lại
Số tiền phí được để lại cho tổ chức thu phí được sử dụng để trang trải chi phí cho hoạt động cung cấp dịch vụ và thu phí trên cơ sở dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm các nội dung chi sau:
a) Chi thường xuyên, gồm:
-
Chi thanh toán cho cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ và thu phí, bao gồm tiền lương, tiền công, phụ cấp và các khoản đóng góp theo quy định trên tiền lương; không bao gồm tiền lương của cán bộ, công chức đã hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo chế độ hiện hành.
-
Chi phí phục vụ hoạt động cung cấp dịch vụ và thu phí như văn phòng phẩm, vật tư văn phòng, thông tin liên lạc, điện, nước, công tác phí theo tiêu chuẩn, định mức quy định.
-
Chi thuê, sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên tài sản, máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động cung cấp dịch vụ và thu phí.
-
Chi mua sắm vật tư, ấn chỉ, nguyên liệu liên quan đến việc cung cấp dịch vụ và thu phí.
-
Các khoản chi khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động cung cấp dịch vụ và thu phí theo quy định.
b) Chi nhiệm vụ không thường xuyên, gồm:
-
Chi thuê, mua sắm, sửa chữa tài sản, máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động cung cấp dịch vụ và thu phí.
-
Các khoản chi khác có tính chất không thường xuyên, phát sinh theo yêu cầu thực tế của hoạt động cung cấp dịch vụ và thu phí.
-
Quyết toán và xử lý số tiền phí được để lại
Hằng năm, tổ chức thu phí có trách nhiệm thực hiện quyết toán thu, chi theo quy định của pháp luật.
Đối với tổ chức thu phí là đơn vị sự nghiệp công lập, sau khi quyết toán thu, chi theo đúng chế độ, số tiền phí được để lại nhưng chưa sử dụng hết trong năm được chuyển sang năm sau để tiếp tục chi theo quy định kể từ thời điểm kết thúc năm ngân sách.
Trường hợp sau thời hạn 05 năm kể từ năm phát sinh mà số tiền phí được để lại vẫn chưa sử dụng hết, tổ chức thu phí có trách nhiệm nộp toàn bộ số tiền còn tồn vào ngân sách nhà nước theo quy định.
Điều 6. Hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp
-
Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
-
Bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật liên quan
Kể từ thời điểm Nghị định này có hiệu lực, Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phí và lệ phí, cùng với Nghị định số 82/2023/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 120/2016/NĐ-CP, chính thức hết hiệu lực thi hành.
-
Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 153/2024/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với khí thải
Kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, Nghị định số 153/2024/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2024 của Chính phủ quy định về phí bảo vệ môi trường đối với khí thải được sửa đổi, bổ sung như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 1 Điều 7 theo hướng quy định rõ các hình thức nộp phí vào ngân sách nhà nước, bao gồm: nộp trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước; nộp cho tổ chức thu phí bằng tiền mặt hoặc không dùng tiền mặt vào tài khoản chuyên thu phí; hoặc nộp cho cơ quan, tổ chức khác trong trường hợp thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Cơ quan, tổ chức nhận tiền phí có trách nhiệm chuyển toàn bộ số tiền thu được vào tài khoản thu ngân sách nhà nước hoặc tài khoản chuyên thu phí của tổ chức thu phí trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận tiền.
b) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 7 theo hướng việc khai và nộp phí bảo vệ môi trường đối với khí thải được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
c) Bổ sung khoản 5 Điều 7, theo đó tổ chức thu phí có trách nhiệm nộp toàn bộ số tiền phí bảo vệ môi trường đối với khí thải thu được vào ngân sách nhà nước; chi phí phục vụ hoạt động thu phí được ngân sách nhà nước bảo đảm và bố trí trong dự toán của tổ chức thu phí theo quy định.
d) Bãi bỏ toàn bộ Điều 8; đồng thời bãi bỏ các nội dung liên quan đến tài khoản phí chờ nộp ngân sách tại Mẫu số 02 và Mẫu số 03 ban hành kèm theo Nghị định số 153/2024/NĐ-CP.
-
Bãi bỏ quy định về lệ phí môn bài
Bãi bỏ Nghị định số 139/2016/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài và Nghị định số 22/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 139/2016/NĐ-CP.
-
Quy định chuyển tiếp đối với số tiền phí đã thu
Đối với các khoản phí đã thu trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực, việc quản lý và sử dụng tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 120/2016/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 82/2023/NĐ-CP.
Đối với số tiền phí được trích để lại trước ngày Nghị định này có hiệu lực, nếu sau thời hạn 02 năm kể từ năm được chuyển nguồn theo quy định tại Nghị định số 82/2023/NĐ-CP mà chưa sử dụng hết, tổ chức thu phí có trách nhiệm nộp toàn bộ số tiền còn tồn vào ngân sách nhà nước.
-
Áp dụng thống nhất trong thời gian chưa sửa đổi văn bản liên quan
Trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền chưa kịp sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc thu phí, lệ phí, việc khai, thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí được thực hiện thống nhất theo quy định tại Nghị định này.
-
Áp dụng văn bản pháp luật sửa đổi, bổ sung
Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật được viện dẫn tại Nghị định này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì thực hiện theo các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế tương ứng.
Điều 7. Tổ chức thực hiện
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các tổ chức thu phí, lệ phí có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của Luật Phí và lệ phí; đồng thời triển khai các nội dung sau đây:
-
Trách nhiệm của tổ chức thu phí, lệ phí
Tổ chức thu phí, lệ phí có trách nhiệm:
a) Xây dựng đề án thu phí, lệ phí theo quy định, trong đó:
-
Đối với đề án thu phí, bao gồm các nội dung: phương thức cung cấp dịch vụ và thu phí; mức thu dự kiến và căn cứ xác định mức thu; đối tượng chịu phí; chính sách miễn, giảm phí; dự toán thu, chi; tỷ lệ phí được để lại; đánh giá khả năng đóng góp của người nộp phí và hiệu quả của việc thu phí.
-
Đối với đề án thu lệ phí, bao gồm các nội dung: phương thức cung cấp dịch vụ và thu lệ phí; mức thu dự kiến và căn cứ xác định mức thu; đối tượng chịu lệ phí; chính sách miễn, giảm lệ phí; đánh giá khả năng đóng góp của người nộp lệ phí và hiệu quả của việc thu lệ phí.
b) Trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định đề án thu phí, lệ phí, cụ thể: trình bộ quản lý chuyên ngành đối với các khoản phí, lệ phí thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính; hoặc trình cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với các khoản phí, lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
c) Trường hợp một khoản phí, lệ phí do nhiều tổ chức cùng thực hiện thu thì không ban hành văn bản quy định riêng cho từng tổ chức thu phí, lệ phí.
d) Thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định của Luật Phí và lệ phí và Nghị định này.
-
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan chuyên môn trực thuộc tổ chức thẩm định đề án thu phí, lệ phí do tổ chức thu phí, lệ phí xây dựng; hoặc trực tiếp xây dựng và thẩm định đề án thu phí, lệ phí trong trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này đối với các khoản phí, lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định việc thu phí, lệ phí theo quy định.
-
Trách nhiệm của các bộ, cơ quan trung ương
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm:
a) Tiếp nhận, tổ chức thẩm định đề án thu phí, lệ phí của các tổ chức thu phí, lệ phí thuộc phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực.
b) Xây dựng đề án thu phí, lệ phí trong trường hợp tổ chức thu phí, lệ phí không xây dựng đề án hoặc trong các trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này đối với các khoản phí, lệ phí thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính.
c) Gửi văn bản kèm theo đề án thu phí, lệ phí đã được thẩm định (hoặc do cơ quan mình xây dựng) đến Bộ Tài chính để trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định về mức thu, chế độ nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng các khoản phí, lệ phí thuộc Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí.
d) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng đề án bổ sung các khoản phí, lệ phí mới chưa có trong Danh mục phí, lệ phí; hoặc đề án sửa đổi, bãi bỏ các khoản phí, lệ phí đã có trong Danh mục. Trên cơ sở đó, gửi đề án kèm văn bản đến Bộ Tài chính để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, hoặc trực tiếp báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định của luật chuyên ngành; đồng thời chịu trách nhiệm về các nội dung đề xuất theo quy định của pháp luật.
-
Nguyên tắc thu phí, lệ phí
Các khoản phí, lệ phí có tên trong Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí chỉ được tổ chức thu khi đã có văn bản quy định cụ thể về mức thu theo thẩm quyền.
-
Trách nhiệm thi hành
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thi hành Nghị định này.
Nơi nhận:
-
Ban Bí thư Trung ương Đảng;
-
Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
-
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
-
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
-
Văn phòng Trung ương Đảng và các Ban của Đảng;
-
Văn phòng Tổng Bí thư;
-
Văn phòng Chủ tịch nước;
-
Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
-
Văn phòng Quốc hội;
-
Tòa án nhân dân tối cao;
-
Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
-
Kiểm toán nhà nước;
-
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
-
Cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị – xã hội;
-
Văn phòng Chính phủ: Bộ trưởng, Chủ nhiệm; các Phó Chủ nhiệm; Trợ lý Thủ tướng; Tổng Giám đốc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ; các Vụ, Cục và đơn vị trực thuộc; Công báo;
-
Lưu: Văn thư, Kinh tế tổng hợp (02 bản).
Tư Vấn Thuế HD là đơn vị chuyên cung cấp các dịch vụ tư vấn và hỗ trợ thuế cho cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp. Với đội ngũ chuyên viên có kiến thức chuyên môn vững vàng và kinh nghiệm thực tiễn, Tư Vấn Thuế HD hỗ trợ khách hàng trong các nội dung như kê khai – quyết toán thuế, tư vấn chính sách thuế, rà soát hồ sơ, tối ưu nghĩa vụ thuế hợp pháp và đại diện làm việc với cơ quan thuế theo đúng quy định.
Chúng tôi luôn đặt yếu tố chính xác, minh bạch và tuân thủ pháp luật lên hàng đầu, nhằm giúp khách hàng giảm thiểu rủi ro và yên tâm trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế. Trường hợp cần hỗ trợ hoặc tư vấn về các vấn đề liên quan đến thuế, người đọc nên liên hệ trực tiếp với tư vấn thuế HD để được tư vấn kịp thời và phù hợp với từng tình huống cụ thể.
Thông tin:
- Website: tuvanthuehd.com
- Địa chỉ: Lô a2d11 Khu đô thị mới Cầu Giấy, số 3 ngõ 84 đường Trần Thái Tông, Phường Cầu Giấy, Thành Phố Hà Nội, Việt Nam.
- SĐT: 036.825.6731 – 034. 943.2286
- Email: [email protected]
