• Home
  • »
  • Tin tức
  • »
  • Kê Khai, Nộp Thay Thuế TNCN Cho Cá Nhân Không Cư Trú: Hướng Dẫn Theo Công Văn 13049

Kê Khai, Nộp Thay Thuế TNCN Cho Cá Nhân Không Cư Trú: Hướng Dẫn Theo Công Văn 13049

Việc xác định đúng trách nhiệm kê khai, khấu trừ và nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam là vấn đề được nhiều doanh nghiệp quan tâm, đặc biệt trong các trường hợp thu nhập được chi trả bởi tổ chức ở nước ngoài. Nếu không xác định đúng chủ thể có nghĩa vụ thực hiện thủ tục thuế, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong quá trình tuân thủ quy định pháp luật và xử lý hồ sơ liên quan. Đáng chú ý, tại Công văn số 13049/NBI-QLDN1 ngày 05/10/2026, Thuế tỉnh Ninh Bình đã hướng dẫn cụ thể về việc kê khai thay, nộp thay thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú. Vậy trong trường hợp nào tổ chức chi trả thu nhập phải khấu trừ và nộp thuế thay? Nếu tiền lương do tổ chức nước ngoài chưa đăng ký thuế tại Việt Nam chi trả thì cá nhân không cư trú phải thực hiện nghĩa vụ thuế như thế nào? Hãy cùng tìm hiểu nội dung Công văn 13049 và các quy định pháp luật có liên quan để làm rõ trách nhiệm của từng bên, từ đó áp dụng đúng quy định trong thực tế.

Kê Khai, Nộp Thay Thuế TNCN Cho Cá Nhân Không Cư Trú: Hướng Dẫn Theo Công Văn 13049
Kê Khai, Nộp Thay Thuế TNCN Cho Cá Nhân Không Cư Trú: Hướng Dẫn Theo Công Văn 13049

Hướng dẫn kê khai và nộp thuế TNCN đối với tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú theo Công văn 13049/NIB-QLDN1

Ngày 05/10/2026, Thuế tỉnh Ninh Bình ban hành Công văn 13049/NIB-QLDN1 nhằm hướng dẫn việc thực hiện chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú, trong đó làm rõ trách nhiệm kê khai, khấu trừ và nộp thuế trong trường hợp có thu nhập phát sinh tại Việt Nam nhưng do tổ chức nước ngoài chi trả.

Nội dung hướng dẫn được đưa ra trên cơ sở đề nghị giải đáp của Công ty TNHH Thép Kyoei Việt Nam tại Văn bản số 22/CV-KSVC26 ngày 14/9/2026. Sau khi xem xét nội dung đề nghị và đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành, Thuế tỉnh Ninh Bình đã có ý kiến cụ thể như sau.

1. Căn cứ pháp lý về nghĩa vụ thuế TNCN của cá nhân không cư trú

Xác định thu nhập chịu thuế của cá nhân không cư trú

Căn cứ Nghị định 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân, điểm b khoản 2 Điều 6 quy định về thu nhập chịu thuế của cá nhân không cư trú như sau:

“Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập.”

Theo quy định này, việc xác định nghĩa vụ thuế TNCN của cá nhân không cư trú được căn cứ vào nơi phát sinh thu nhập. Vì vậy, nếu tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú phát sinh tại Việt Nam thì khoản thu nhập này thuộc phạm vi xem xét tính thuế TNCN tại Việt Nam, kể cả khi đơn vị chi trả thu nhập đặt tại nước ngoài.

Trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thuế TNCN

Tại khoản 1 Điều 67 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, pháp luật quy định tổ chức, cá nhân thực hiện chi trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ trước khi thanh toán cho người nộp thuế, trừ những khoản thu nhập thuộc trường hợp ngoại lệ theo quy định.

Quy định này cũng đề cập đến các trường hợp có liên quan đến cá nhân không cư trú, tổ chức nước ngoài và việc hoàn trả chi phí tiền lương, tiền công giữa bên Việt Nam với bên nước ngoài.

Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 67 Nghị định 253/2026/NĐ-CP xác định trách nhiệm kê khai, nộp thuế trực tiếp của cá nhân trong một số trường hợp, bao gồm trường hợp tổ chức, cá nhân chi trả chưa thực hiện khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay; trường hợp nhận thu nhập từ tổ chức nước ngoài không đăng ký thuế tại Việt Nam và các trường hợp khác được quy định tại khoản 4 Điều này.

Như vậy, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế không phải lúc nào cũng thuộc về đơn vị sử dụng lao động hoặc tổ chức tại Việt Nam. Tùy thuộc vào chủ thể chi trả thu nhập và tình huống phát sinh, cá nhân nhận thu nhập có thể phải trực tiếp thực hiện thủ tục khai thuế, nộp thuế theo quy định.

2. Cá nhân không cư trú trực tiếp khai thuế TNCN theo quy định nào?

Ngoài Nghị định 253/2026/NĐ-CP, việc xác định trách nhiệm kê khai thuế TNCN còn được hướng dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 22 Thông tư 89/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 của Bộ Tài chính.

Theo đó, đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc trường hợp cá nhân trực tiếp khai thuế với cơ quan thuế, điểm c.1.3 quy định về trường hợp khai thuế theo quý như sau:

“Cá nhân không cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh tại Việt Nam do tổ chức nước ngoài không đăng ký thuế tại Việt Nam chi trả.”

Về cơ quan tiếp nhận và xử lý hồ sơ, điểm c.3.1.3 quy định cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi phát sinh thu nhập tại Việt Nam là đơn vị tiếp nhận, xử lý hồ sơ đối với trường hợp nêu trên.

Đồng thời, theo điểm c.4 khoản 1 Điều 22 Thông tư 89/2026/TT-BTC, hồ sơ khai thuế TNCN theo quý và hồ sơ quyết toán thuế TNCN được thực hiện theo quy định tại điểm 7.1 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.

Các quy định trên là cơ sở để xác định trường hợp cá nhân không cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công do tổ chức nước ngoài chưa đăng ký thuế tại Việt Nam chi trả phải trực tiếp thực hiện nghĩa vụ kê khai thuế với cơ quan thuế Việt Nam.

3. Hướng dẫn kê khai, nộp thay thuế TNCN theo Công văn 13049/NIB-QLDN1

Trên cơ sở các quy định pháp luật nêu trên và nội dung được Công ty TNHH Thép Kyoei Việt Nam trình bày tại Văn bản số 22/CV-KSVC26, Thuế tỉnh Ninh Bình đã làm rõ trách nhiệm thuế đối với trường hợp 04 kỹ sư nước ngoài có thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh tại Việt Nam.

Cụ thể, do Công ty TNHH Thép Kyoei Việt Nam không phải là tổ chức trực tiếp chi trả khoản tiền lương, tiền công cho các cá nhân này nên Công ty không thuộc trường hợp phải thực hiện khấu trừ thuế TNCN và nộp số thuế đã khấu trừ thay cho 04 kỹ sư nước ngoài theo nội dung được hỏi.

Trong trường hợp các kỹ sư là cá nhân không cư trú, có thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh tại Việt Nam nhưng được tổ chức nước ngoài không đăng ký thuế tại Việt Nam chi trả, các cá nhân phải trực tiếp thực hiện việc kê khai thuế với cơ quan thuế có thẩm quyền theo hướng dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 22 Thông tư 89/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026.

Đối với trường hợp này, cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi phát sinh thu nhập tại Việt Nam sẽ tiếp nhận và xử lý hồ sơ theo quy định. Việc kê khai cần được thực hiện theo đúng kỳ khai thuế và hồ sơ áp dụng đối với cá nhân thuộc diện trực tiếp khai thuế.

Thuế tỉnh Ninh Bình cũng đề nghị Công ty TNHH Thép Kyoei Việt Nam căn cứ tình hình thực tế tại đơn vị, nghiên cứu các quy định pháp luật được viện dẫn và đối chiếu với những văn bản liên quan để thực hiện đúng nghĩa vụ thuế.

Theo hướng dẫn tại Công văn 13049/NIB-QLDN1 ngày 05/10/2026 của Thuế tỉnh Ninh Bình, đối với trường hợp cá nhân không cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh tại Việt Nam do tổ chức nước ngoài không đăng ký thuế tại Việt Nam chi trả, cá nhân thuộc diện này phải trực tiếp kê khai thuế với cơ quan thuế theo quy định.

Đối với tình huống được Công ty TNHH Thép Kyoei Việt Nam đề nghị giải đáp, do Công ty không trực tiếp chi trả tiền lương, tiền công cho 04 kỹ sư nước ngoài nên không thuộc trường hợp phải khấu trừ và nộp thuế TNCN thay cho các cá nhân này theo hướng dẫn của cơ quan thuế.

Qua đó, doanh nghiệp cần xác định rõ chủ thể trực tiếp chi trả thu nhập, nơi phát sinh thu nhập và tình trạng đăng ký thuế của tổ chức chi trả để phân định chính xác trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thuế. Việc xác định đúng trách nhiệm ngay từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế sai sót trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế và bảo đảm tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành.

Những khoản thu nhập được giảm 30% thuế TNCN theo Nghị quyết 43/2026/QH16

Nghị quyết 43/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất ngày 24/8/2026, quy định một số chính sách giảm thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và thuế thu nhập doanh nghiệp. Nghị quyết có hiệu lực kể từ ngày được thông qua.

Vậy những đối tượng nào được hưởng chính sách giảm 30% thuế TNCN? Khoản thu nhập nào thuộc diện áp dụng ưu đãi này và trường hợp nào vẫn phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%? Nội dung dưới đây sẽ làm rõ các quy định liên quan, giúp cá nhân kinh doanh chủ động xác định nghĩa vụ thuế của mình.

1. Thu nhập nào được giảm 30% thuế TNCN trong năm 2026 và năm 2027?

Căn cứ Điều 1 Nghị quyết 43/2026/QH16, chính sách giảm thuế TNCN được quy định như sau:

Giảm thuế thu nhập cá nhân, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp

Giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú có mức doanh thu hằng năm của năm 2026, năm 2027 không quá 10 tỷ đồng.

Theo đó, cá nhân cư trú có thu nhập từ hoạt động kinh doanh và đáp ứng điều kiện về doanh thu được hưởng chính sách giảm 30% số thuế TNCN phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027.

Điều kiện quan trọng cần lưu ý là doanh thu hằng năm không vượt quá 10 tỷ đồng trong năm tính thuế tương ứng. Chính sách này áp dụng đối với thuế TNCN phát sinh từ hoạt động kinh doanh thuộc phạm vi quy định, không đồng nghĩa với việc tất cả các loại thu nhập của cá nhân đều được giảm thuế 30%.

Sáu nhóm thu nhập từ kinh doanh thuộc phạm vi xem xét giảm thuế

Theo Điều 7 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, thu nhập từ kinh doanh được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 bao gồm các nhóm sau:

Thứ nhất, thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ.

Đây là khoản thu nhập phát sinh từ việc sản xuất sản phẩm, mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ theo quy định pháp luật.

Đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, cũng như hoạt động sản xuất muối, cần xem xét riêng điều kiện miễn thuế theo Điều 21 Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Quy định về thu nhập từ kinh doanh nêu trên áp dụng đối với những trường hợp không đủ điều kiện được miễn thuế theo điều khoản này.

Thứ hai, thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập.

Nhóm này bao gồm thu nhập của cá nhân hành nghề độc lập có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề và thực hiện đăng ký kinh doanh theo quy định. Việc xác định nghĩa vụ thuế cần căn cứ vào lĩnh vực hành nghề, điều kiện pháp lý và doanh thu thực tế của cá nhân.

Thứ ba, thu nhập từ hoạt động đại lý.

Thu nhập phát sinh từ việc làm đại lý theo quy định pháp luật thuộc nhóm thu nhập từ kinh doanh, bao gồm hoạt động đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số và đại lý bán hàng đa cấp.

Thứ tư, thu nhập từ hoạt động môi giới.

Đây là khoản thu nhập cá nhân nhận được khi thực hiện hoạt động môi giới theo quy định pháp luật. Việc xác định nghĩa vụ thuế cần căn cứ vào bản chất hoạt động và khoản thu nhập thực tế phát sinh.

Thứ năm, thu nhập từ hợp tác kinh doanh với tổ chức, doanh nghiệp.

Cá nhân có thu nhập từ việc hợp tác kinh doanh với doanh nghiệp hoặc tổ chức thuộc nhóm thu nhập này. Việc phân loại và xác định nghĩa vụ thuế cần dựa trên nội dung hợp tác, phương thức phân chia kết quả kinh doanh và quy định pháp luật liên quan.

Thứ sáu, thu nhập từ kinh doanh thương mại điện tử và kinh doanh trên nền tảng số.

Nhóm này bao gồm thu nhập phát sinh từ hoạt động kinh doanh thông qua thương mại điện tử hoặc các nền tảng số. Cá nhân kinh doanh trực tuyến cần xác định doanh thu và nghĩa vụ thuế theo quy định áp dụng đối với hoạt động của mình.

Như vậy, sáu nhóm nêu trên là các loại thu nhập từ kinh doanh được xác định theo Điều 7 Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Tuy nhiên, để được giảm 30% thuế TNCN theo Nghị quyết 43/2026/QH16, cá nhân vẫn phải đáp ứng các điều kiện về đối tượng, kỳ tính thuế và mức doanh thu theo quy định.

2. Những trường hợp nào phải khấu trừ 10% thuế TNCN?

Bên cạnh chính sách giảm thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, Nghị định 253/2026/NĐ-CP còn quy định một số trường hợp áp dụng tỷ lệ khấu trừ thuế TNCN 10%. Cụ thể như sau:

Thu nhập từ trúng thưởng

Theo Điều 58 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, thuế TNCN đối với thu nhập từ trúng thưởng của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất 10%.

Khi xác định số thuế phải nộp, cần căn cứ vào quy định cụ thể về thu nhập tính thuế và các điều kiện áp dụng đối với từng khoản trúng thưởng.

Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng

Theo Điều 61 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, thuế TNCN đối với thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng của cá nhân cư trú được xác định theo công thức lấy thu nhập tính thuế nhân với thuế suất 10%.

Việc xác định nghĩa vụ thuế cần xem xét loại tài sản được nhận, giá trị tính thuế và các điều kiện chịu thuế theo quy định pháp luật.

Thu nhập của cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng dưới 03 tháng

Khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định việc khấu trừ thuế đối với tiền lương, tiền công, tiền thù lao và các khoản chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng.

Theo đó, nếu mức chi trả thu nhập thuộc phạm vi quy định từ 5 triệu đồng/lần trở lên, tổ chức hoặc cá nhân trả thu nhập phải khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trước khi thanh toán cho người nhận.

Đối với khoản chi trả dưới 5 triệu đồng/lần, bên trả thu nhập thực hiện khấu trừ theo tỷ lệ 10% nếu cá nhân có yêu cầu, theo quy định được viện dẫn.

Cần phân biệt trường hợp khấu trừ thuế đối với tiền lương, tiền công này với chính sách giảm 30% thuế TNCN dành cho thu nhập từ kinh doanh. Hai quy định có phạm vi áp dụng khác nhau.

Phí bảo hiểm tích lũy vượt mức quy định do người sử dụng lao động chi trả

Theo điểm b khoản 3 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, một trường hợp khác áp dụng tỷ lệ khấu trừ thuế 10% liên quan đến phí bảo hiểm tích lũy từ bảo hiểm nhân thọ và các loại bảo hiểm không bắt buộc do người sử dụng lao động mua cho người lao động.

Đối với khoản phí bảo hiểm đã mua hoặc đóng góp vượt mức quy định thuộc diện chịu thuế, tổ chức chi trả có trách nhiệm khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ theo tỷ lệ 10%.

Khi áp dụng, cần xác định đúng loại bảo hiểm, khoản phí thuộc diện tính thuế và mức vượt quy định theo văn bản pháp luật có liên quan.

Lưu ý về thời điểm áp dụng: Nghị định 253/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Theo thông tin được viện dẫn, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.

Theo Nghị quyết 43/2026/QH16, chính sách giảm 30% thuế TNCN trong kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 được áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng, đáp ứng các điều kiện theo quy định. Các nhóm thu nhập từ sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; hành nghề độc lập; đại lý; môi giới; hợp tác kinh doanh và kinh doanh trên nền tảng số là những nhóm cần được xem xét khi xác định phạm vi áp dụng chính sách.

Trong khi đó, thuế suất hoặc tỷ lệ khấu trừ 10% được áp dụng đối với một số khoản thu nhập riêng biệt như trúng thưởng, nhận thừa kế, quà tặng, tiền công của cá nhân thuộc trường hợp quy định và phí bảo hiểm vượt mức chịu thuế. Vì vậy, cá nhân và doanh nghiệp cần phân loại chính xác từng khoản thu nhập, xác định đúng điều kiện áp dụng và phân biệt giữa chính sách giảm số thuế phải nộp với nghĩa vụ khấu trừ thuế tại thời điểm chi trả để thực hiện đúng quy định pháp luật.

Kết luận

Kê khai và nộp thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú đòi hỏi phải xác định chính xác nguồn thu nhập, chủ thể trực tiếp chi trả và trách nhiệm thuế theo quy định pháp luật. Theo hướng dẫn tại Công văn số 13049/NBI-QLDN1 ngày 05/10/2026 của Thuế tỉnh Ninh Bình, doanh nghiệp không trực tiếp chi trả tiền lương, tiền công cho cá nhân không cư trú thì không thuộc trường hợp phải khấu trừ và nộp số thuế đã khấu trừ thay trong tình huống được đề cập. Đối với cá nhân không cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh tại Việt Nam do tổ chức nước ngoài không đăng ký thuế tại Việt Nam chi trả, cá nhân phải trực tiếp thực hiện việc kê khai và nộp thuế theo quy định hiện hành. <Cite refs={[“turn424779search0″,”turn424779search3”]}/>

Như vậy, doanh nghiệp và cá nhân có liên quan cần phân biệt rõ trách nhiệm khấu trừ, kê khai thay, nộp thuế thay với nghĩa vụ tự kê khai của người trực tiếp nhận thu nhập. Việc rà soát kỹ hợp đồng, hồ sơ chi trả và các quy định áp dụng sẽ giúp hạn chế nhầm lẫn, tránh phát sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế. Để bảo đảm tuân thủ đầy đủ, các bên nên thường xuyên cập nhật hướng dẫn của cơ quan thuế và tham khảo ý kiến chuyên môn khi phát sinh tình huống phức tạp liên quan đến thu nhập xuyên biên giới.

Dịch vụ quyết toán thuế theo năm của Công ty Tư Vấn Thuế HD là giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện đầy đủ, chính xác các công việc liên quan đến quyết toán thuế định kỳ, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp và các nghĩa vụ thuế có liên quan. Công tác quyết toán đòi hỏi doanh nghiệp phải rà soát nhiều hồ sơ, sổ sách, hóa đơn, chứng từ và số liệu kế toán, vì vậy việc có đơn vị chuyên môn đồng hành sẽ giúp hạn chế sai sót và giảm áp lực cho bộ phận kế toán.

Tư Vấn Thuế HD hỗ trợ doanh nghiệp rà soát số liệu, kiểm tra hồ sơ và chứng từ liên quan, xác định các khoản doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế và nghĩa vụ thuế; đồng thời hỗ trợ lập, kiểm tra và hoàn thiện hồ sơ quyết toán theo quy định. Trong quá trình thực hiện, những vấn đề có nguy cơ dẫn đến sai lệch số thuế phải nộp hoặc phát sinh rủi ro về thuế cũng được xem xét để doanh nghiệp có phương án xử lý phù hợp.

Sử dụng dịch vụ quyết toán thuế theo năm giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc kiểm soát nghĩa vụ thuế, tiết kiệm thời gian và hạn chế những rủi ro do kê khai, tổng hợp hoặc xử lý hồ sơ chưa chính xác. Nếu doanh nghiệp đang chuẩn bị quyết toán thuế hoặc cần rà soát lại số liệu trước khi thực hiện quyết toán, hãy liên hệ Công ty Tư Vấn Thuế HD để được tư vấn thuế và hỗ trợ chuyên nghiệp, kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp.

Thông tin:

  • Website: tuvanthuehd.com
  • Địa chỉ: Lô a2d11 Khu đô thị mới Cầu Giấy, số 3 ngõ 84 đường Trần Thái Tông, Phường Cầu Giấy, Thành Phố Hà Nội, Việt Nam.
  • SĐT: 036.825.6731 – 036.825.6731
  • Email: [email protected]
Bài viết liên quan
Chat Zalo
Gọi ngay
036 825 6731